Người Việt từ xa xưa coi trọng nghề nông, coi nông nghiệp là căn bản của sự an sinh – “canh nông vi bản”. Ngày nay, phát triển nông nghiệp công nghệ cao là nền tảng cho phát triển kinh tế, xã hội và ổn định chính trị, tạo tiền đề để hiện thực hóa khát vọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chính vì thế, phát triển nông nghiệp công nghệ cao chính là động lực giúp nền nông nghiệp Việt Nam vững bước trong hành trình hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu và cách mạng nông nghiệp 4.0. Tuy gặp phải nhiều rào cản, Trung An vẫn khẳng định vị thế của mình qua nhiều thương vụ xuất khẩu uy tín sang thế giới.
Mục lục

Ngành nông nghiệp Việt Nam bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản đang tạo ra khoảng 14% GDP. Hiện tại có hàng chục triệu hộ nông dân, khoảng 10.500 hợp tác xã nông nghiệp và hơn 33 nghìn doanh nghiệp đang trực tiếp tổ chức sản xuất nông nghiệp.
Việt Nam đã ban hành Luật Công nghệ cao năm 2008 và thông qua Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 theo Quyết định 1985/QĐ-TTg ngày 17-12-2012. Hiện nay, cả nước có hơn 20 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và 29 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã đi vào hoạt động.
Hàng trăm tập đoàn lớn và công ty liên kết với nông dân sản xuất hàng hóa trên diện tích hơn 400 nghìn ha. Hàng nghìn tỷ đồng đã được đầu tư cho ứng dụng CNC vào nông nghiệp từ các doanh nghiệp (DN), địa phương, cũng như được thực hiện lồng ghép với các nhiệm vụ phát triển của ngành, địa phương, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ KHCN cấp Bộ, cấp nhà nước, đề án ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản. Quỹ hỗ trợ phát triển nông nghiệp cao hàng nghìn tỷ đồng đã được Thủ tướng đồng ý cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chủ trì, phối hợp các cơ quan chức năng xây dựng, triển khai.

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao cần nguồn vốn rất lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nhân lực, tiêu thụ sản phẩm và nhất là nhập thiết bị. Chi phí xây dựng mô hình này phải nói là gấp từ 4-5 lần so với xây dựng trang trại theo mô hình truyền thống
Nguồn nhân lực nông nghiệp là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nhưng hiện lại đang thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Phần lớn lao động trình độ thấp không đủ năng lực làm chủ công nghệ tiên tiến, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất.
Để sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cần phải có đất đai quy mô lớn, ở vị trí thuận lợi cho sản xuất và lưu thông. Đồng thời, quá trình tích tụ và tập trung đất đai còn chậm do quy định hạn điền và thời gian sử dụng đất còn bất cập bởi phải xử lý qua nhiều thủ tục.
Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta còn hạn hẹp, không ổn định dẫn đến hiệu quả sản xuất một số sản phẩm còn thấp, chưa tương xứng với mức độ đầu tư. Nguyên nhân do nhiều loại nông sản chưa có thương hiệu; dự báo nhu cầu thị trường đối với sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao chưa có hoặc chưa đầy đủ; liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn lỏng lẻo; nông sản xuất khẩu phần lớn ở dạng thô, giá trị gia tăng thấp; giá bán sản phẩm NNCNC còn cao so với mức thu nhập của người tiêu dùng.
Do thiếu tính định hướng cũng như chưa nắm bắt được nhu cầu của các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao nên nhiều sản phẩm công nghệ của các cơ sở nghiên cứu khoa học mới dừng lại ở thử nghiệm, chưa thể đưa vào sản xuất.

“Chúng tôi tin tưởng vào tầm nhìn về một tương lai bền vững, nơi nông sản Việt Nam tạo được uy tín và sức ảnh hưởng trên toàn cầu” – Phạm Thái Bình, Tổng Giám Đốc Công ty CP Công nghệ cao Trung An.
Xem thêm bài viết liên quan